// you're reading...

Bài nghiên cứu mới

Thiền trong thơ Nguyễn Trãi

Thiền có ảnh hưởng tới thơ Nguyễn Trãi, trong thơ Nguyễn Trãi có chất Thiền. Điều này đã được nhiều người nhận thấy[1]. Tuy nhiên nó ảnh hưởng tới đâu, nó chỉ là nhân tố ảnh hưởng hay còn là một bộ phận cấu thành văn hoá và văn chương Nguyễn Trãi? Những bài thơ có ý vị Thiền là những bài nào, mức độ nó ra sao, tại sao Nguyễn Trãi lại có những bài thơ như vậy. Nếu có dòng ảnh hưởng của Thiền, hay sự tiềm chứa chất Thiền trong thơ Nguyễn Trãi thì điều đó cho thấy vấn đề gì trong văn học sử… đó là những điều lý thú mới chỉ được nhắc tới, động chạm tới mà hầu như chưa có sự thảo luận cho thấu đáo.

Nói tới Thiền ảnh hưởng, hoặc chi phối, hoặc là hồn cốt của một tác phẩm thi ca, một thi tập hay sự nghiệp sáng tác văn chương của một người nào đó, người ta có thể nhìn nhận nó trên một số phương diện. Nếu đi từ ngoài vào trong, từ tầng hiển thị tới tầng tiềm ẩn, từ hình thức tới tư tưởng, tới thẩm mỹ, từ bộ phận tới toàn thể, từ nông tới sâu… thì người ta thường bắt đầu xem xét trong tác phẩm đó có xuất hiện Thiền ngữ, Thiền điển hay không; rồi sau nữa   xét xem tư tưởng Thiền ảnh hưởng tới tư tưởng, hình thức triết lý như thế nào; tư tưởng Thiền xuất hiện trong tác phẩm cho thấy tâm cảnh của người sáng tác ra sao, và sâu nhất là thế giới thẩm mỹ trong tác phẩm đó Thiền tới mức nào. Có những người dùng rất nhiều từ ngữ Thiền, “sắc sắc không không” xuất hiện  rất nhiều, nhưng tác phẩm lại rất thế tục và không có mấy chất Thiền. Có người nói tới Thiền, thuyết giảng Thiền, nhưng chất văn chương thì ít, tư tưởng Thiền mới ở tầng ngôn từ mà chưa thấu suốt tâm tính. Có người thơ ca hầu như không có từ ngữ Thiền nào, cũng không thấy thuyết giảng tư tưởng Thiền, nhưng đọc xong thấy thanh thoát, thinh không một tâm Thiền vắng lặng sáng láng.

 Ở Nguyễn Trãi, ta thấy trong thơ của ông có tất cả các cấp độ ảnh hưởng, các mức độ nông sâu của Thiền. Có nhiều bài Thiền ngữ, Thiền điển xuất hiện rất nhiều, nhất là  trong những  bài thơ đề vịnh danh lam, du chơi Phật tự, những bài  xướng hoạ tặng tiễn cùng giới tu hành. Chẳng hạn bài Đề Đông Sơn tự:

Quân thân nhất niệm cửu oanh hoài,

 Giản quý lâm tàm túc nguyệt quai.

 Tam thập dư niên trần cảnh mộng,

 Sổ thanh đề điểu hoán sơ hồi.”

Dịch nghĩa:

                Một niềm quân thân vấn vít mãi trong lòng,

 Để đến nỗi suối rừng phải thẹn vì lời nguyền xưa của ta.

 Giấc mộng cõi trần đã hơn ba mươi năm,

 Vài tiếng chim kêu mới gọi tỉnh lại.

 (Nguyễn Trãi 1962: 24)

Bài thơ nói về tinh thần con người vì đời, con người tu dưỡng và hành động theo tinh thần của nhà Nho, nhưng trong những phút giây  bất chợt, vụt thấy đời người như cõi mộng hư ảo không thực. Con người cá nhân có lúc sực tỉnh như vừa quan cơn mộng. Bài thơ có những Thiền ngữ như “mộng cõi trần”, “mộng tỉnh”...  Bài thơ  này về cơ bản là tinh thần thẩm mỹ của thơ ca nhà Nho, nhưng là nhà Nho trong những tâm trạng bất an trên con đường hành đạo, tâm vẫn nặng nỗi quân thân nhưng khi lục vấn vẫn đã thấy chút xao lòng với giấc mộng Nam Kha và Thiền thanh tịnh quyến rũ. Bài thơ có đôi chút ý vị  Thiền, do cả xúc cảm và Thiền ngữ đem lại.

Bài thơ: Tống tăng Đạo Khiêm quy sơn

“Ký tằng giảng học thập dư niên,

 Kim hựu tương phùng nhất dạ miên.

 Thả hỉ mộng trung phao tục sự,

 Cách tầm thạch thượng toại Thiền duyên.

 Minh triêu Linh Phố hoàn phi tích,

 Hà nhật Côn Sơn cộng thính tuyền.

 Lão khứ cuồng ngôn hưu quái ngã,

 Lâm kỳ ngã diệc thượng thừa Thiền.”

(Nguyễn Trãi 1962: 24)

Dịch nghĩa:

Tiễn Thiền sư Đạo Khiêm về núi

Nhớ từng giảng học hơn mười năm,

Nay lại gặp nhau, ngủ một đêm.

Hãy mừng trong chiêm bao vứt bỏ mọi niềm tục,

Lại tìm trên đá cùng nhau bàn luận duyên xưa.

Sáng mai, gậy thần tích còn bay trên Linh Phố,

Ngày nào lại cùng nghe suối reo ở Côn Sơn.

Già đến nói ngông, đừng lấy làm lạ,

Tới đoạn đường rẽ, ta cũng làm Thiền sư Thượng Thừa[2].

Tương tự như bài thơ trên, bài này cũng phảng phất  chất Thiền  trong những câu thơ nói về “bỏ niềm tục”, “nói duyên xưa”, “thượng thừa Thiền”…  cùng  chút  thanh thoát  pha trộn thiêng và tục,  thực tại và mộng ảo. Bài thơ có chút buông bỏ nhất thời. Nhưng lời kết và tinh thần tổng thể của bài thơ cơ bản vẫn là nỗi bâng khuâng của con người có tán thành, có hứng thú với Thiền, nhưng đang nhập thế hành động lại  đang hành động  và nhập thế trong buổi gian lao thử thách

Một bài khác, bài Du Nam Hoa tự:

“Thần tích phi lai kỷ bách xuân,

Bảo lâm hương toả kế tiền nhân.

Hàng long phục hổ, cơ hà diệu,

Vô thụ, phi đài ngữ nhược tân.

Điện trắc khởi lâu tàng Phật bát,

Khám chung di tích thuế chân thân.

Môn Thiền nhất phái Tào Khê thuỷ,

Tẩy tận nhân gian kiếp kiếp trần.”

Dịch nghĩa:

Gậy thần bay tới đây đã cách mấy trăm năm rồi,

Hương hoả chùa Bảo Lâm giữ theo nhân duyên trước.

Hàng rồng, phục hổ sao phép nhiệm màu đến thế,

Không phải cây, chẳng phải đài[3], lời nói như luôn mới.

Bên điện dựng lầu để dấu bát Phật,

Trong tháp còn để dấu lột xác cho chân thân.

Trước cửa một dòng Tào Khê chảy,

Rửa hết bụi bặm bao kiếp nhân gian.

(Nguyễn Trãi 2001: 308-309)

Đây là một bài thơ vịnh cảnh, nhưng có tính chất bài thơ vịnh sử, vịnh danh thắng. Bài thơ nhắc lại chuyện xưa liên quan tới ngôi chùa Bảo Lâm, nơi Lục Tổ Huệ Năng đã tu luyện và giảng Thiền, nhân đó bày tỏ đôi chút suy tư về Phật giáo. Bài thơ có ý khẳng định và ca ngợi Phật pháp. Có chút chiêm nghiệm sâu lắng. Bài thơ nói đến sự tích của chùa, tới sư tổ, đến Phật pháp. Tuy nhiên cái Thiền lý và Thiền thú thì hầu như chưa thấy thể hiện nhiều trong hệ thống hình tượng của thơ. Bài này còn bị liệt vào nhóm các bài còn tồn nghi, chưa chắc chắn của Nguyễn Trãi[4], vì vậy bài này chỉ nêu thêm để tham khảo.

 Trong văn chương của Nguyễn Trãi, nhiều bài dày đặc từ ngữ Thiền nhưng những Thiền ngữ đó đôi khi dùng như thói quen, như vốn từ phổ biến lúc bấy giờ hơn là một dụng tâm sâu. Số này chiếm nhiều nhất. Trong đó có nhiều bài phảng phất vị Thiền, có bài không thật đậm chất Thiền, có bài man mác một tinh thần gì đó của nhân sinh không thể phân cắt được đâu là Thiền,  đâu là Nho, đâu là Lão Trang. Chẳng hạn bài Mộ xuân tức sự:

“(Nhĩ Nhã: Khổ luyện tam nguyệt khai hoa, phương hương mãn đình)

Nhàn trung tận nhật bế thư trai,

Môn ngoại toàn vô tục khách lai.

Đỗ vũ trung thanh xuân hướng lão,

Nhất đình sơ vũ luyện hoa khai.”

(Nguyễn Trãi 2001: 57)

Dịch nghĩa:

(Sách Nhĩ Nhã nói: Tháng ba cây xoan nở hoa, mùi hương thơm đấy sân)

Trong cảnh nhàn cả ngày khép trai phòng,

Ngoài cửa không có khách tục nào tới.

Tiếng chim cuốc kêu báo xuân đang tàn,

Hoa xoan nở đầy sân trong mưa phùn[5].

Đây là một bài thơ rất điển nhã, có cái nhàn tản, siêu trần thoát tục, tĩnh tịch. Cái thanh tĩnh có từ trong tâm nhàn thể hiện ra bài thơ, từ ngôn từ, hình tượng, thẩm mỹ. Chủ thể thẩm mỹ có thể hiện tinh thần nhiệm tự nhiên, buông bỏ niềm tục, không thấy bồi hồi của người sĩ phu tự nhiệm, nhịp sống là nhịp của tự nhiên. Đây là sắc thái của tinh thần Lão Trang. Nhưng cái tĩnh tịch  trong bài là tĩnh của tâm, còn hình tượng thì vẫn sống động, sống động của cảnh vận hành ngoài nhân ý, như nó vốn vậy. Đó là thời gian tự nhiên, không phải thời gian của tâm trạng, tiếng cuốc kêu tự báo xuân đang tàn, đang qua. Nó qua như nó vốn vậy. Mưa phùn rơi, hoa xoan nở và rụng trong mưa. Hoa xoan trên cây, hoa xoan dưới sân và trong mưa. Cảnh không mang dấu ấn tinh thần chủ thể. Từ góc độ này thì lại thấy bài thơ rất Thiền. “Đỗ vũ trung thanh xuân hướng lão; Nhất đình sơ vũ luyện hoa khai,” thấy rất tương đồng gần gũi với những câu thơ trong Sơn Phòng mạn hứng của Trần Nhân Tông: “Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch; Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn” (Nguyễn Huệ Chi chủ biên 1988: 469) (Hoa rụng hết mưa tạnh núi tĩnh tịch, một tiếng chim kêu báo mùa xuân đang tàn). Cái “chất nhàn” của Nguyễn Trãi vừa có ưu du thoát tục của Trang Tử vừa có cái thanh tĩnh siêu việt của Thiền. Thật khó phân cắt rạch ròi đâu là Trang, đâu là Thiền.

 Ta cũng sẽ thấy sự thể hiện tương tự như vậy trong nhiều bài thơ Nguyễn Trãi làm khi nhàn tản, vô sự. Chẳng hạn bài Đề Vân Oa:

“Bán liêm hoa ảnh mãn sàng thư;

Đình ngoại tiêu tiêu thủy trúc cư.

Tận nhật vân oa vô cá sự;

Hắc điềm nhất chẩm bán song hư.”

(Nguyễn Trãi 2001: 51)

Dịch nghĩa:

          Bóng hoa che nửa rèm, đầy giường sách;

          Ngoài sân gió xào xạc trong lùm thủy trúc.

          Cả ngày ở Vân Oa không có việc gì;

          Một gối ngủ say bên cửa sổ trống.

Bài này cũng có cái vô sự, vô ưu và thêm vào đó cái hư linh vừa Thiền vừa Trang. Sự đan xen hòa quyện này thể hiện ở cả từ ngữ, hình tượng, tinh thần thẩm mỹ. Nhiều bài thơ khác như Vãn hứng, Tức sự… đều ít nhiều có  tinh khuynh hướng này với độ đậm nhạt khác nhau. Nhóm bài này tinh thần Thiền khá sâu, nhưng nó tồn tại trong dạng phức thể khó phân cắt.

  Ở một số bài thơ khác, ta thấy tinh thần Thiền tính chất Thiền  đậm và thể hiện trên bình diện toàn thể hơn, chẳng hạn bài Giang hành:

“Tây tân sơ nghị trạo,

Phong cảnh tiện giang hồ.

Vũ quá sơn dung sấu.

Thiên trường nhạn ảnh cô,

Thương Lang hà xứ thị,

Ngư điếu hảo vi đồ.

Hồi đầu đông hoa địa,

Trần ai giai dĩ vô.”

(Nguyễn Trãi 2001: 32)

Dịch nghĩa:

Thuyền vừa khua mái chèo rời bến Tây,

Cảnh giang hồ lập tức đã hiện ra.

Qua cơn mưa, dáng núi gân guốc sắc nét,

Trời mênh mang, bóng nhạn lẻ loi.

Bến Thương Lang ở nơi đâu?

Ông chài ông lưới đều là những người bạn tốt.

Ngoảnh đầu nhìn lại đất Đông hoa,

Trần ai đã thành hư vô cả.

Đây là một bài thơ mang đầy tâm trạng của Nguyễn Trãi. Con người ra đi, rời đất Đông hoa, nhưng trong lòng vẫn một câu hỏi lớn. Dòng Thương Lang biết là nơi đâu, nên xuất hay xử, hành hay tàng đây. Bỏ thì chưa bỏ được, ở cũng không nên. Con người cô độc giữa dòng đời. Dáng núi gân guốc, bầu trời mênh mang và một cánh nhạn lẻ loi. Nỗi buồn không gì chia sẻ. Con thuyền hướng về phía chốn giang hồ (chốn tự do phóng khoáng đối lập với đô hội kinh kỳ), nhưng hình như lòng người còn để nơi cửa khuyết.[6] Chốn phồn hoa đô hội đã bỏ rồi, ông ngư ông chài là những người bạn tốt chờ đón ta, nhưng hình như lòng người chưa vui trong cuộc giang hồ như ông chài ông lưới. Cái lý do tồn tại của ông chài ông ẩn là rũ sạch bụi trần, quên đời quên người, quên vua, quên nước thì thi nhân Nguyễn Trãi chưa đành. Tuy vậy, con thuyền và thi nhân vẫn cứ đi, vẫn cứ rời xa chốn Đông Hoa, cõi trần ai vẫn dần thành hư vô.

Cái thoáng buồn và cô độc của Nguyễn Trãi lại được thể hiện bằng nhiều Thiền ngữ như, hồi đầu, trần ai, giai dĩ vô. Đối với các thi nhân Hồi đầu  là hình tượng, là cách nói quen thuộc, nhưng nó được dùng nhiều trong Thiền. Học thiền hẳn không ai quên câu nói: “Khổ hải vô nhai, hồi đầu thị ngạn[7]. Hình tượng của thuyền, bến, ông ngư ông điếu, cánh nhạn lẻ, bầu trời mênh mang, ngoảnh đầu lại trần ai biến mất hết là những hình tượng, những ý tượng thường được dùng trong văn chương cổ Việt Nam và Trung Quốc đặc biệt là thơ của Thiền gia và Thi ẩn. Đây sẽ là một bài thơ chuẩn Thiền thực sự nếu như tâm cảnh của thi nhân đạt tới không tịch. Nhưng tâm của Nguyễn Trãi lại động, lại bồi hồi, như thế Thiền mà chưa hẳn Thiền. Chất Thiền ở đây sâu hơn và đậm hơn một số bài mà Thiền chỉ xuất hiện ở tầng thứ từ ngữ hay phảng phất ý vị, hay đan xen kết hợp, như một số bài đã đề cập ở trên, nhưng nói đây là một bài thơ Thiền tiêu biểu thì chưa phải. Nguyễn Trãi lấy Thiền để thể hiện tâm trạng người thế tục, người thực tại. Nguyễn Trãi chiêm nghiệm nhân sinh bằng cả tinh thần của cả Tam giáo.

          Trong kho tàng thi ca Nguyễn Trãi, còn  có nhiều bài thơ mà chất Thiền tiêu biểu hơn, tập trung hơn nữa. Có những bài Thiền đã là hồn cốt của thi ca.

Bài Đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự

“Yên Sơn sơn thượng tối cao phong,

Tài ngũ canh sơ, nhật chính hồng.

Vũ trụ nhãn cùng thiên hải ngoại,

Tiếu đàm nhân tại bích vân trung.

Ủng môn ngọc sóc sâm thiên mẫu,

Quải thạch châu lưu, lạc bán không.

Nhân miếu đương niên di tích tại,

Bạch hào quang lý đổ trùng đồng.”

 (Nguyễn Trãi 2001: 265)

Dịch nghĩa:

Đề chùa Hoa Yên ở núi Yên Tử

          Trên dãy núi Yên Tử ở ngọn cao nhất,

          Mới đầu canh năm mặt trời đã đỏ rực.

          Cảnh vũ trụ, mắt nhìn ra tận ngoài biển xanh,

          Tiếng nói cười, người ở trong làn mây biếc.

Bao bọc trước cửa, những cây giáo ngọc xum xuê nghìn mẫu,

Treo trên đá, những dải châu lơ lửng giữa từng không.

Di tích vua Nhân Tông năm xưa còn đó,

Trong ánh hào quang tỏa ra giữa hai lông mày,

trông thấy rõ mắt có đôi con ngươi.

(Nguyễn Trãi 2001: 265- 67)

 Đây là một bài khá đặc biệt trong số các bài thơ của Nguyễn Trãi còn để lại. Cũng có thể vì thời điểm ẩn cư nhàn dật khiết tâm linh, tinh thần tác giả khá siêu thoát, nhưng cũng có thể là chút gợi hứng từ không gian Yên Tử và di tích cũ của đức Phật Hoàng khiến cho chất Thiền nổi bật và sâu đậm đến bất ngờ trong thế giới thẩm mỹ của nhà Nho Nguyễn Trãi. Bài thơ vừa có tính chất thơ vịnh cảnh, vịnh danh thắng, kết hợp thơ cấu tứ hình tượng và cảm hứng kiểu thơ đăng cao. Đăng cao không chỉ viễn vọng và thấy tầm nhìn xa hơn, mà chủ thể thẩm mỹ cũng cảm thấy cõi trần tục lụy rời xa hơn. Thế giới tiên cảnh trùng điệp rất có chiều sâu và bề rộng. Tầm vóc của thế giới nhân sinh rộng mở theo tầm nhin của mắt. Tinh thần chủ thể đồng nhất với không gian vũ trụ bao la không giới hạn. Sự rộng mở của không gian và tầm nhìn có tiềm chứa yếu tố buông bỏ lãng quên thế giới vật dục và đời thường chật hẹp. “Vũ trụ nhãn cùng thiên hải ngoại; Tiếu đàm nhân tại bích vân trung” là hiện hữu của tâm vô trụ, vô ngại và tự do tự lạc. Ngàn mẫu trúc xanh  làm nền thực rất đậm   cho những dải mây treo lơ lửng  nửa thực nữa hư “lạc bán không” tạo thêm chất họa của tranh sơn thủy không hư tịch mịch huyền ảo rất Thiền. Bài thơ đặt nền trên cao nhất, đi từ xa thẳm “cõi ngoại chi cõi phương ngoại chi phương” (cõi ơi ngoài cõi phương ở ngoài phương) do Thiền nhãn chiếu rọi tới, rồi trở về cảnh quan xung quanh nửa hư nửa thực của mây của trúc, rồi dần hồi quy về thế giới nội tâm  rất có chiều sâu ở hai câu kết hun hút thăm thẳm thấu cả bề dầy thời gian và tâm ý. Có cái tán thành, cái đồng cảm, cái sùng thượng, tôn thiêng với đức Phật Hoàng và không gian linh thiêng Yên Tử.

Những bài này vừa là đặc trưng thẩm mỹ siêu thoát, vượt giới hạn và quy ước mang tính siêu việt của Thiền cộng thêm với chất hào mại, phóng khoáng du nhiên tráng đại kỳ vỹ phi phàm kiểu Trang Tử, nhưng Thiền là chủ đạo. Nếu đặt trong thang nấc gia tăng dần của hàm lượng và chiều sâu chất Thiền trong thơ Nguyễn Trãi thì bài này đậm và sâu hơn những bài đã dẫn ở trên khá nhiều.

Điều làm ta ngạc nhiên hơn nữa chính là ở những bài thơ “xuất thần” khá đặc biệt và “lạ” ở nhà Nho Nguyễn Trãi bởi Thiền ý Thiền hứng hết sức đặc sắc, của sự thống nhất cao độ giữa Thiền tứ và Thi tình. Thiền ở dây thuần nhất, toàn thể và tiêu biểu.  Chẳng hạn bài Du sơn tự sau đây:

“Đoản trạo hệ tà dương,

Thông thông yết thượng phương.

Vân quy Thiền sáp lãnh,

Hoa lạc giản lưu phương.

Nhật mộ viên thanh cấp,

Sơn không trúc ảnh trường.

Cá trung chân hữu ý,

Dục ngữ hốt hoàn vương.”

(Nguyễn Trãi 2001: 29)

Dịch nghĩa:

Chèo ngắn buộc chiều tà,

Xăm xăm lên viếng Phật đài.

Mây về giường Thiền trở lạnh,

Hoa rụng suối đưa mùi hương.

Chiều tối vượn kêu gấp,

Núi vắng bóng trúc đổ dài.

Trong cảnh ấy bỗng có ý,

Muốn nói thoắt lại quên.

 Chất Thiền ở bài thơ này của Nguyễn Trãi không phải ở đề tài mô tả là một chuyến đi chơi chùa trên núi, mà ở hầu hết mọi phương diện của sáng tác thi ca. Có thể nói bài này đạt tới độ “ tự tự nhập Thiền”( từng chữ đều nhập Thiền) . Vài câu mở đầu đã gợi ra cảnh tượng hư linh. Nhưng cái mỹ cảnh của Thiền đậm nhất ở những câu sau, đặc biệt là: “Vân quy Thiền sáp lãnh; Hoa lạc giản lưu phương”. Mây về, giường Thiền chuyển lạnh. Suối đưa hoa rụng mang theo mùi thơm.  Mây không vì ai mà về, suối không vì ai mà đưa hương. Cảnh ấy  không có đón không có đưa, không mong không tiếc. Cả chủ và khách thể đều tùy duyên tự lạc tự hành. Tâm Thiền vô trụ, tâm cảnh giao dung. Quá khứ, hiện tại và tương lai nhất thể, khoảnh khắc mà vĩnh hằng, vĩnh hằng trong khoảnh khắc. “Chiều tối tiếng vượn kêu gấp; Núi vắng bóng trúc đổ dài” vẫn là  những hình tượng mà tự thể, tự chuyển, tất cả hợp thành một bức tranh sống động: có hình ảnh, âm thanh, màu sắc, mùi vị, nhiệt độ, hình khối, chuyển động, tương tác, biến đổi, độ trong đục, mờ tỏ… Không gì có thể sống động hơn thế. Cảnh không thể hiện gì nhân ý, không mang dấu ấn của tinh thần chủ thể. Tác giả mô tả cảnh không phải để ký thác một niềm vui hay bộc bạch một nỗi buồn nào. Nó là trạng thái không hư, linh diệu của tinh thần. Loại tâm trạng không tâm trạng. Cả chủ thể và khách thể thẩm mỹ đều siêu việt. Nó siêu việt vì  tâm chủ thể không bồi hồi niềm nhân tình thế thái, trong khoảnh khắc như hoàn toàn thanh tịnh. Cảnh động mà biểu đạt tình lắng. Cảnh động  mà lại gợi dẫn về một cái tĩnh vĩnh hằng. Cái tĩnh vĩnh hằng của bản thể tự nhiên thanh tĩnh. Cá trung chân hữu ý; dục ngữ hốt hoàn vương”, tới đây, tinh thần của Thiền đạt tới trọn vẹn. Con người lĩnh hội, cảm nhận về thế giới bên ngoài là một loại trực ngộ, mà không phân cắt được. Đó chính là tâm Thiền vô niệm. Trong cảnh ấy thấy có ý. Ý đó là Thiền ý là ý Không. Cái không ý đó thể hiện ra khi thị phi, danh lợi, vui buồn thoắt biến mất cả, người nghệ sĩ rơi vào khoảnh khắc diệu ngộ. Thấy cái thanh tĩnh vĩnh hằng trong những hình tượng sơn thanh thuỷ tú chốn danh lam.  Nó cũng là một trạng thái đối cảnh kiến chân như. Mỹ cảnh của sơn thuỷ hoa điểu đã “chú giải” cho tâm. Cái chân như của tồn tại, của tâm chỉ thể ngộ được, cảm được bằng trực giác mà không thể dùng ngôn từ để diễn tả được. Vì thế mà nói : “dục ngữ hốt hoàn vương. Nếu có thể làm cuộc bình chọn lấy dăm ba bài thơ Thiền hay nhất của văn học Trung đại Việt Nam,  chắc phải chọn Du sơn tự của Nguyễn Trãi đầu tiên, và trong đó  đôi câu “ Vân quy Thiền sáp lãnh; Hoa lạc giản lưu phương” ( Mây về giường Thiền lạnh; Hoa rụng suối đưa hương) có thể xem là những câu thơ Thiền hay nhất trong làng thơ Thiền trung đại.

Về căn bản, Nguyễn Trãi là một nhà Nho, Nhà Nho khá tiêu biểu. Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trãi là sự nghiệp văn chương của Nhà nho. Vậy thì tại sao trong thơ ông vẫn mang chất Thiền, thậm chí là đậm, ở một vài chỗ. Điều này hoàn toàn có thể giải thích được. Nguyễn Trãi là sản phẩm của văn hoá đời Trần. Đến Nguyễn Trãi, dẫu sự ảnh hưởng của Thiền tuy có giảm so với trước trên bề nổi các hoạt động nhưng vẫn còn khá mạnh[8]. Đặc biệt tinh thần của Thiền tựa hồ như vẫn còn ngấm sâu và thăng hoa trong tầng lớp sĩ phu.  Nguyễn Trãi cũng là sự hiện hữu sinh động của sự chuyển giao giữa hai thời đại Phật giáo và Nho giáo. Nguyễn Trãi là sự hiện hữu của sự thắng thế và vượt trội của văn chương Nhà Nho, về cả quy mô, số lượng, dòng chủ đạo, cảm hứng, đặc trưng…. Tuy nhiên, dẫu là Nho giáo ưu thắng hơn ở con người ông, nhưng nó vẫn tồn tại ở ông những thuộc tính văn hoá của Thiền. Có nhiều phương diện mà Thiền và Thi nhân không mâu thuẫn với nhau, thậm chí tương thông, nhất thể. Tư tưởng Thiền và những chiêm nghiệm nhân sinh, đời sống tinh thần cá thể tương hỗ bổ sung cho nhau. Nói một cách chính xác hơn, tầm văn hóa của Nguyễn Trãi rất rộng lớn, nó không duy nhất thuộc về Nho hay Đạo hay Thiền. Nó dung thông cả ba, và ở mỗi khía cạnh ông đều thể hiện sự thể hiện đạt tới tinh hoa và đỉnh cao. Văn chương mang chất Thiền ở Nguyễn Trãi ở góc độ nào đó có thể nhìn nhận nó chỉ là dư ba hòa trộn trong số lượng lớn tác phẩm văn chương nhà Nho. Nhưng Với những nhân cách văn hoá lớn, với thiên tài nghệ thuật của Nguyễn Trãi, thì chỉ chút dư ba của Thiền trong tinh thần, gặp những cảnh những khoảnh khắc phù hợp nó sẽ thể hiện bằng những áng văn chương đặt biệt hấp dẫn.

Đối với kẻ sĩ, mỗi triết thuyết làm thoả mãn cho họ ở một phương diện. Tam giáo ở rất nhiều  mặt không mâu thuẫn mà bổ sung. Ở mỗi trạng thái tinh thần khác nhau, văn nhân cần tới một loại chất liệu tư tưởng khác nhau để thể hiện. Lúc hăm hở hành đạo, tư tưởng Nho gia đương nhiên chủ đạo, lúc thân tâm mỏi mệt tìm tới  Phật Đạo tiêu dao trong chốn hư vô tịch mịch hay phiêu dật nơi cõi ngoại cũng là điều dễ hiểu. Nguyễn Trãi lại là một thi nhân lớn, một tâm hồn cực phong phú. Người nghệ sĩ ấy có lúc mạnh mẽ hùng hồn với những áng hùng văn, có lúc lý tính suy tư chiêm nghiệm, nhưng cũng có lúc thanh tĩnh siêu thoát, có những khoảnh khắc thăng hoa của trí tưởng tượng và có khoảng khắc  trực giác đưa tới sự siêu việt như cảnh giới ngộ đạo của Thiền. Con người ta có lúc sống với con người chức năng, con người hành đạo, phận vị, cũng có lúc sống với tinh thần cá nhân, cá thể…Đó mới chính là Nguyễn Trãi trong hiện thực, Nguyễn Trãi phong phú, đa dạng, nhiều cung bậc. Không có gì khó hiểu khi chúng ta thấy những bài thơ Thiền trong thi tập của nhà Nho Nguyễn Trãi. Nói cách khác là tinh thần phóng khoáng của văn hóa thẩm mỹ đời Trần, sự dung hợp Tam giáo – một truyền thống lớn đời Trần đã làm nên tầm vóc văn hóa và văn chương Nguyễn Trãi lớn lao như vậy.

  Nguyễn Trãi không phải Thiền sư toàn tòng, nhưng thơ ông có đôi ba bài đạt tới mức đỉnh cao của loại hình thơ Thiền. Trong những bài này Thiền và thi nhất thể. Thiền đạt tới chiều sâu và sự tinh tuý nhất. Người nghệ sĩ tài hoa xuất thần và thiền gia siều thoát. Trong thực tế, sự thâm nhập của Thiền đối với đời sống chỉ thực sự đạt tới chiều sâu nhất khi nó chiếm lĩnh được tâm hồn, tình cảm, tư duy và thẩm mỹ của sĩ phu, văn nhân. Lý Trạch Hậu lý giải rất hay về điều này khi nói về cái đẹp của thơ Thiền Vương Duy cùng các thi nhân đời Đường khác. Ông cho rằng, đọc những vần thơ của Thi Phật Vương Duy người ta mới thấy hết được Thiền chiếm lĩnh tầng lớp văn nhân sĩ phu như thế nào. Sự thâm nhập này còn mạnh mẽ hơn cả khung cảnh “thiên hạ danh sơn tăng chiếm đa” (Lý Trạch Hậu). Phải  chăng, tới cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV, Thiền dần lùi bước cho Nho giáo trên trường chính trị, tư tưởng, nhưng ở phần tinh tuý nhất dành cho nhân sinh con người nó vẫn còn một vị trí nhất định. Nguyễn Trãi là hình mẫu nhà Nho tiêu biểu của thời đại này, nhưng ở ông vẫn còn là mô hình dung thông tư tưởng Tam giáo, nhân sinh Tam giáo và thẩm mỹ của Tam giáo. Thiền là có thật và có giá trị trong thơ ca Nguyễn Trãi.

Tệ xá Mỹ Đình thu vãn năm Bính Thân 2016

Tài liệu trích dẫn

Lý Trạch Hậu. 2001. Hoa Hạ mỹ học- Hình thượng truy cầu. Đài Bắc : Thương hải tùng san.

Nguyễn Huệ Chi chủ biên. 1988. Thơ văn Lý- Trần, tập 2 quyển thượng. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội.

Nguyễn Phạm Hùng. 1998. Thơ Thiền Việt Nam- những vấn đề lịch sử và tư tưởng nghệ thuật. Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

Nguyễn Trãi. 1962. Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi. Hà Nội: NXB Văn hóa.

Nguyễn Trãi. 2001. Nguyễn Trãi Toàn tập tân biên. Tập 1. Mai Quốc Liên (chủ biên). Hà Nội: NXB Văn học.

Võ Văn Ái. 1982. Nguyễn Trãi sinh thức và hành động. Paris: NXB Quê Mẹ.

[1] Nguyễn Phạm Hùng trong Thơ Thiền Việt Nam- những vấn đề lịch sử và tư tưởng nghệ thuật (1998) trong phần tuyển tác phẩm thơ Thiền, đã đưa vào đó 03 bài thơ của Nguyễn Trãi cùng lời nhận định:  Ông (Nguyễn Trãi) “là người có cảm tình với Phật giáo”. Ba bài thơ mà Nguyễn Phạm Hùng trích trong tuyển tập là :  Đề Đông Sơn tự; Du Nam Hoa tự; Tống Tăng Đạo Khiêm quy sơn. Về ba bài thơ được dẫn soạn giả cũng không có thêm lời bình luận và cũng không nói rõ lý do tại sao chọn các bài thơ này.

[2] Thượng Thừa: còn gọi là Đại Thừa, nhằm giải thoát mọi chúng sinh khỏi bể khổ. Phân biệt với Tiểu Thừa, nhằm giải thoát cho cá nhân người tu hành.

[3] Vô thụ, phi đài, chữ dùng trong bài kệ của Lục tổ Huệ Năng. Trong bài có câu: “Bồ đề bản vô thụ, Minh kính diệc phi đài”. Nghĩa là Bồ đề cây mà bản thể chân thực thì cũng chẳng phải cây chân thực. Đài minh kính rốt cục cũng chẳng phỉa đài minh kính chân thực. Ý bài kệ của Huệ Năng  biểu thị nhận thức về thuyết tính không và tư tưởng vô sở trụ của Thiền.

[4] Nguyễn Trãi Toàn tập tân biên (Mai Quốc Liên chủ biên) đã xếp bài Du Nam Hoa tự. vào nhóm các bài tồn nghi vì lý do không xác định rõ được Nguyễn Trãi có tới Quảng Châu, cũng tức có theo cha và anh trai sang Trung Quốc hay không.

[5] Phần dịch nghĩa bài này không theo bất kỳ bản dịch nào đã công bố.

[6] Thân chốn giang hồ lòng còn nơi cửa khuyết- ý chỉ người ẩn dật nhưng không hoàn toàn ẩn được, lòng vẫn để ơ chốn triều đình, với vua, với đời.

[7]  Bể khổ không có bờ bến, ngoảnh nhìn lại nơi tâm mình sẽ tìm thấy bờ.

[8]  Ông Võ Văn Ái, trong công trình Nguyễn Trãi sinh thức và hành động còn khẳng định Nguyễn Trãi là một Thiền sư và nhìn nhận tư tưởng, hành động của Nguyễn Trãi toàn bộ là do tư tưởng Thiền chi phối (Võ Văn Ái 1982).

6 people like this post.