// you're reading...

Bài lưu trữ

Trần Nhân Tông học ( Nhân Tông học) có thể trở thành một lĩnh vực học thuật

 

Trần Nhân Tông là một danh nhân văn hóa, là nhà chính trị, là lãnh tụ tôn giáo lớn của Việt Nam và của nhân loại. Ông thuộc số rất ít những người mà ánh hào quang của các giá trị càng tỏa xa rộng theo cùng chiều dài thời gian, bề rộng của không gian và tầm nhân loại của các giá trị đó ngày càng được khẳng định. Thiền phái Trúc Lâm, (hay Phật giáo Trúc Lâm như cách nói của một số người nghiên cứu gần đây) ngày càng thể hiện rõ vị trí trụ cột quan trọng, có những vai trò đặc biệt và mang nhiều  đặc trưng Việt của Phật giáo.

Từ năm 2008,  kể từ sau  đại lễ  tưởng niệm 700 năm ngày đức vua Trần Nhân Tông nhập niết bàn tới nay, việc nghiên cứu thảo luận về Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm đã khởi sắc và xuất hiện ngày càng nhiều thành tựu, đã có sự quan tâm của các nhà nghiên cứu thuộc giới tu hành cũng như các học giả, người hâm mộ trong và ngoài nước. Số lượng bài viết ngày càng nhiều, góc độ đề cập ngày càng phong phú. Càng đi sâu vào thế giới di sản của của Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm, người ta càng khám phá thêm những giá trị quý báu.  Tuy nhiên có thể thấy ngay là các nghiên cứu này khá phân tán, tùy hứng, không tập trung. Chưa có những chuyên luận chuyên sâu, những chương trình hay dự án nghiên cứu lớn về Trần Nhân Tông và Trúc Lâm.   Trần Nhân Tông là nhà văn hóa, tư tưởng, nhà hoạt động chính trị và tôn giáo lớn, Trúc Lâm là Thiền phái  quan trọng của Phật giáo Việt Nam, nhưng nếu việc nghiên cứu thảo luận không tương xứng, không tới tầm thì không những không làm tôn các giá trị của di sản   mà thậm chí còn làm sai lệch và tổn hại tới hình ảnh. Vì vậy, việc  định hình một chiến lược nghiên cứu, một số tổ chức nghiên cứu chuyên sâu về Trần Nhân Tông, Trúc Lâm và phát huy di sản này trong nước và quốc tế là việc hết sức cần thiết.

Chúng ta có thể  thấy di sản Trần Nhân Tông và Thiền Trúc Lâm là  đối tượng nghiên cứu lớn, rộng, cần làm lâu dài và có định hướng chiến lược  rõ ràng. Trước hết cần nghiên cứu khách quan, khoa học để hiểu đúng và chỉ ra nó là như thế nào?  Đâu là cót lõi của tư tưởng của Trần Nhân Tông và Thiền Trúc Lâm? Đâu là đặc sắc riêng có trong tư tưởng Trần Nhân Tông và Trúc Lâm, đâu là những  kinh nghiệm tu hành mang tính vận dụng, tính thực tiễn được đúc rút lại, đâu là vấn đề mang tính lịch sử, đâu là vấn đề mang tính nhân loại và trường tồn…

Cách đi tìm và quan niệm tìm đặc sắc Trần Nhân Tông và Trúc Lâm có ý nghĩa quan trọng. Có phải chỉ những gì hoàn toàn riêng, không có ở thiền phái nào  mới là đặc sắc của Trúc Lâm, hay “ Thể đồng dụng biệt” đã là đặc sắc? Hay đặc sắc nằm ở chỗ vận dụng, thể nghiệm và con đường tu tập giác ngộ riêng tạo nên bản sắc của Thiền Trúc lâm? Riêng vấn đề  phương pháp, quan điểm nghiên cứu Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm đã đáng triển khai một vài tọa đàm khoa học. Những hoạt động này là cần thiết để đẩy việc nghiên cứu lên tầm vóc mới.

Cần chuẩn bị tư liệu cho nghiên cứu và thảo luận sâu rộng và lâu dài. Tư liệu thuộc trước tác của Trần Nhân Tông và  ngữ lục của ông còn để lại không nhiều. Nhưng những tài liệu chép về Tam Tổ, về đời Trần, các tài liệu chính dã sử, các tài liệu có liên quan như Trúc lâm đại sĩ xuất sơn đồ; Tam tổ thực lục… thì lại còn khá phong phú. Cần tập hợp  dịch thuật đầy đủ và phát hành rộng rãi để thuận tiện cho người nghiên cứu và học tập. Cũng cần có những bản diễn nghĩa hiện đại cho người đương thời có thể hiểu và tiếp nhận thuận tiện. Phú Cư trần lạc đạo và bài ca Đắc thú lâm tuyền thành đạo tuy viết bằng văn Nôm, nhưng ngôn ngữ Nôm quá cổ kính, đến các nhà nghiên cứu sâu đọc cũng còn khó hiểu, người không chuyên môn không thể tiếp cận được. Cần nghiên cứu theo hướng giải thích, giải mã văn hóa mang tính hiện đại hóa để  phát huy hết tư tưởng, tinh hoa, đem nó giải quyết các vấn đề của nhân sinh hiện đại, đó là cách rất cần làm để phát huy tư tưởng của Trần Nhân Tông và Trúc Lâm.

Việc nghiên cứu mang tính học thuật đối với đối tượng nghiên cứu là Phật học, các tư tưởng và trải nghiệm tôn giáo là việc có nhiều khó khăn. Nghiên cứu Phật học vướng  vào mâu thuẫn giữa tính  khoa học, lô gic, lý tính và tính tôn giáo trực ngộ và phi lô gic, phi lý tính. Cũng cần nghiên cứu Trần  Nhân Tông và Trúc Lâm trong tổng thể văn hóa, lịch sử Việt Nam, đời Trần, Phật giáo và nghiên cứu trong bối cảnh khu vực và thời đại…. Khen thái quá cũng là hạ thấp. Đề cao một cách không khách quan và không bằng chứng cũng là tầm thường hóa. Nhiều người khi viết về Trần Nhân Tông, vì bản ý muốn ca ngợi ông nên nói ông trút bỏ ngai vàng như vứt cái giầy rách. Nói thế tưởng ca ngợi hóa ra lại tầm thường hóa Phật Hoàng. Ngai vàng của tổ tông và vận mệnh dân tộc qua xương máu gian khổ của chúng sinh mới giành và giữ được đâu phải cái tầm thường có thể vứt bỏ. Đạo và đời ở ông hài hòa vô biệt. Niết bàn không rời sinh tử, giải thoát chẳng ngoài thế gian. Cũng cần chú ý nghiên cứu trong cơ chế Tam giáo hòa đồng, Tam giáo tịnh hành, một đặc trưng khá nổi bật của lịch sử tư tưởng và văn hóa Việt Nam. Định hướng hình thành một lĩnh vực Nhân Tông học là rất có thể. Nghiên cứu một cách có tổ chức, có kế hoạch, có đầu tư, có dụng tâm… Tổ chức lực lượng nghiên cứu, phối hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa các cơ quan nghiên cứu và Giáo hội là việc mà chúng ta cần quan tâm khi đã hình thành các tổ chức nghiên cứu chuyên nghiệp. Điều này có vai trò cực kỳ quan trọng.

Chúng ta cần hướng mạnh tới việc quốc tế hóa việc nghiên cứu về Trần Nhân Tông… Trần Nhân Tông đã được một số học giả nước ngoài quan tâm, nhưng chủ yếu vẫn là người gốc Việt. Nguyễn Lang khi viết về lịch sử Phật giáo Việt Nam đã dành một phần đáng kể cho Trần Nhân Tông và Trúc Lâm.  Tran Nhan Tong Academe tại Harvard… cũng có triển khai một vài hoạt động. Nhưng học giả nước ngoài gốc Âu Mỹ nghiên cứu sâu về Trần Nhân Tông thì hầu như vẫn còn chưa có.  Việc quôc tế hòa việc nghiên cứu về Trần Nhân Tông tạo điều kiện cho tư tưởng của ông ảnh hưởng sâu rộng ra ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Cần đại chúng hóa tư tưởng của Trần Nhân Tông: Tinh thần hòa quang đồng trần, niết bàn thị sinh tử, sinh tử thị niết bàn, tư tưởng bất nhị pháp môn, tam vô ( vô trụ, vô tướng, vô ngã) của ông cần được giản dị hóa để nó có thể tới được người bình thường, ai cũng hiểu được, ai cũng có thể thể nghiệm và học tập theo. Đó chính là công việc của giới nghiên cứu cứu hôm nay. Chúng tôi cho rằng đó cũng chính là chủ đề và mục tiêu của hội thảo hôm nay của chúng ta.

26.11.2016

10 people like this post.