// you're reading...

Tản văn

Minh triết

 Không phải ngẫu nhiên mà trong công trình nổi tiếng ” Trung quốc triết học sử“,  của mình, Phùng Hữu Lan  lại đưa vấn đề thảo luận là Trung Quốc ( một trường hợp tiêu biểu của phương Đông) có triết học hay không có triết  học? Cho tới tận ngày nay, việc coi Đông phương có triết học thực sự ( theo những tiêu chí của Tây Phương ) hay không vẫn còn tiếp tục thảo luận. Nhưng một nền triết lý hay minh triết rực rỡ thì thực sự đã và đang tồn tại ở phương Đông. Có lẽ vấn đề MINH TRIẾT mới là chuyện lớn đáng bàn  của  lịch sử  tinh thần con người các quốc gia Đông phương.

          Triết học nhân sinh phát triển rất sớm và đã đạt tới độ sâu sắc, ( chứ không phải triết học với các nếp nang đầy đủ với vũ trụ luận, bản thể luận, nhận thức luận…như triết Tây). Dùng MINH TRIẾT để nói về triết lý Đông phương là hoàn toàn hợp lý và có những nội hàm phù hợp với thực tế.  Minh triết là khuynh hướng của việc dùng tư tưởng, tình cảm, cảm quan và cả trực giác  để thấu thị, thấu triệt về thế giới hơn là hiểu thế giới. Để hòa cùng một cách triệt để với vũ trụ chứ không phải để phân tích vũ trụ. Nó hướng mọi sự khám phá tới đích cuối cùng và đích lớn nhất là nhân sinh của con người, quan hệ con người. Nó quan tâm tới việc làm thế nào cho con người cảm thấy an lạc, thoải mái, thung dung, vui vẻ, hòa hài với bên ngoài, với mọi người, với vũ trụ hơn là  khoái lạc của nhận thức và khám phá. Minh triết không thiên về nhận thức, không trọng khám phá, không trọng huyền lý, không hướng nhiều về vũ trụ để truy tìm tri thức để thỏa mãn tò mò.

          Minh là sáng tỏ, thấu triệt. Triết là rõ ràng, đúng đường, đúng lối đúng cách, phù hợp, hết lý hết nhẽ. Minh triết là tự sáng tỏ và thấu triệt về bản thân mình và về xã hội của mình, vũ trụ mà mình tồn tại. Điều quan trọng nhất của minh triết là biết ứng xử, biết xử lý các loại quan hệ. Trí tuệ nhằm giải quyết tốt nhất các quan hệ, trong các cảnh huống và trường hợp.  Cả Tam giáo ( Nho Phật Đạo) đều nhằm tới việc làm thế nào để bên  trong nội tâm thì biết xử lý và điều khiển các cảm xúc của mình để tâm hoan hỷ an nhiên, tự tại tự chủ, ngoài thì tiến thoái, xuất nhập, ứng đối sao cho phù hợp đúng đường đúng lối, ứng xử đúng theo chuẩn mực của đạo. Minh triết là biết tiến biết thoái, biết lấy biến bỏ, biến đi biết dừng, biết cho biến nhận, biết thiếu biết đủ, và cả biết cái gì nên biết và cái gì không nên biết. Làm được như vậy tức là  là bậc minh triết ở đời.  Minh triết cũng cần trí tuệ,  nhưng nó là trí tuệ được rèn luyện và hình thành trong ứng xử, qua ứng xử, từ chiêm nghiệm cuộc sống và chiêm nghiệm hành vi của người khác mà nên.

          Chuẩn mực để minh và triết chính là ĐẠO, làm đúng theo Đạo là minh và triết. Phật giáo phê phán gay gắt việc dùng trí tuệ để thâm nhập những nguyên lý được gọi là diệu pháp diệu đạo,   trực ngộ được ĐẠO mà không phải thấu hiểu ĐẠO. Minh tâm kiến tính để thành Phật chứ không phân tích về Phật. Đạo gia chủ trương noi theo nguyên lý tối cao của TỰ NHIÊN, từ làm theo mà tới nhất thể với Đạo ( nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên – Đạo đức kinh). Còn Nho gia thì xem sự tự giác của đạo đức, sự thực hành của đạo đức tới độ chí thành thì có thể tham thiên địa tán hóa dục, chí thành như thần. Những cái đó  chính là minh triết.

           Hiểu được đặc điểm và con đường của minh triết hy vọng mới đi vào chiều sâu, đi vào bản sắc của tư tưởng và triết lý phương Đông, cũng để hiểu sở trường và hạn chế trong người phương Đông. So sánh văn hóa Đông – Tây không thể không tính tới vấn đề này.  

19.2.2014

13 people like this post.