// you're reading...

Tản văn

Bố thí

Bố thí hay gọi đầy đủ là bố thí ba la mật đa  là một hạnh,  là một phép tu  trong  lục độ ( sáu phẩm đức hạnh giúp người ta vượt qua trở ngại mà tới cõi giác ngộ). Bố thí là cho, biết cho, biết trao. Khi làm công việc đó, người ta thực hiện một việc tu luyện thân tâm. Mỗi lần làm việc bố thí là một lần người ta  thắng được cái tham của mình. Cho đi cái nhỏ là thắng cái tham nhỏ, cho đi cái lớn hơn là thắng cái tham ở mức độ lớn hơn.  Cho đi là hành động nhắc nhở đừng tham, giảm cái tham, nhắc người ta tu sửa cái lòng tham. Bố thí là biểu hiện của sự biết cho đi, sự buông đi. Nó cần được thực hiện một cách tự nguyện, không điều kiện.

Làm việc bố thí là để tăng cái sự nghĩ tới người khác, ân cần với người khác, quan tâm tới người khác. Nó là rèn đắp cái từ bi, bao dung. Bố thí để làm cho người được bố thí vui sướng và bản thân người bố thí cũng đạt được sự hoan hỷ. Hiệu quả tinh thần trực tiếp cũng như hiệu quả tích thiện nghiệp của việc bố thí không hẳn ở số lượng và giá trị vật chất bố thí, mà phần nhiều giá trị của nó nằm ở cách bố thí. Với người nghèo, san sẻ một chút cho người nghèo hơn trong cơn hoạn nạn còn có giá trị gấp nhiều lần món đồ tặng giá trị lớn của người giàu mà không phải sản phẩm của sự cảm thông và xót thương sâu xa. Một người chỉ có duy nhất cái bánh mì trên tay dám chia sẻ với người khác một nửa tức là anh ta đã cho đi một nửa tài sản của mình.

Bố thí cũng không chỉ giới hạn trong bố thí vật chất, người không có vật chất gì cũng có thể thực hành việc bố thí. Có chuyện kể lại rằng:

Một người rất đỗi nghèo hỏi Đức Phật “Tại sao con làm việc gì cũng không thành công, không gặt hái được kết quả gì?”. Phật trả lời “Vì con chưa học được cách bố thí cho người khác”. Người kia thưa “Con không có thứ gì cả, thì lấy gì con bố thí”. Đức Phật dạy : “Cho dù con hoàn toàn không có của cải gì, con vẫn có thể thực hiện bố thí 7 thứ   sau đây cho người khác: 

1. Nhan thí – Biết nở nụ cười và nét mặt thân thiện để đem lại niềm vui cho người khác.

2. Ngôn thí –  Biết nói lời khích lê, động viên cổ vũ người khác, biết dùng lời mền mại chan hòa để cùng vui.

3. Tâm thí –  Biết mở lòng, bao dung độ lượng, biết tha thứ cho người khác, biết quên đi hận thù, đem  thực tâm đối đãi với người khác.

4. Nhãn thí –  Biết dùng ánh mắt thân thiện, hữu ái, độ lượng mà nhìn người khác

5. Thân thí –  Biết dùng hành động mà giúp đỡ, chăm sóc, chia sẻ cho người khác, an ủi vỗ về người khác

6. Tọa thí – Biết nhường chỗ ngồi cho người già yếu, trẻ em, người tàn tật, phụ nữ mang thai hay người cần ngồi hơn mình.

7. Phòng thí –  Biết nhường chỗ trong nhà mình hay chỗ nghỉ ngơi chung cho người lỡ độ đường hoặc có nhu cầu bức thiết hơn mình.

Cái sự bố thí thực rộng lớn và ý nghĩa sâu xa. Nếu ai chỉ hiểu đó là biểu thị của lòng thương hại, sự ban phát cho người khác thì thực không hiểu được hết ý nghĩa   của nó.

 

28 people like this post.