// you're reading...

Tản văn

Chuyện giàu và nghèo của nhà nho

Nhiều người nói tới nhà nho là hay nghĩ tới mẫu người khắc khổ, gàn dở, khắc kỷ, ghét lợi lộc, bảo thủ, khủng khỉnh với giàu sang. Cách hiểu đó không đúng. Đó có thể là bề ngoài của họ trong một số trường hợp. Nhà Nho học hành, tu dưỡng đạo đức, phần để giúp vua, để hành đạo, nhưng cũng để vinh thân phì gia, để được hưởng bổng lộc vua ban. Thậm chí cũng có thể bạo  mồn mà nói là nhà nho rất thích giàu, ham phú quý, phú quý cho cộng đồng, cho dân chúng, cho xã tắc và cho chính mình, chỉ có điều giàu sang, phú quý trong quan niệm của họ là loại phú quý có điều kiện, phú quý gắn với đạo và đặc biệt quan trọng là con đường và cách thức đạt được phú quý.

Có một lần, Khổng tử nói với học trò:

“ Bang hữu đạo, bần thả tiện yên, sỉ dã. Bang vô đạo, phú dữ quý yên, sĩ dã”( Luận ngữ)

Nghĩa là: Bang có đạo, thiên hạ thái bình, vua sáng cai trị, cả thiên hạ đều có cơ hội phú quý cả mà riêng mình ta nghèo hèn thì ta phải thẹn vì sự nghèo của mình ( do năng lực kém). Nước vô đạo, loạn lạc, khó khăn, cương thường trật tự đảo lộn, cả thiên hạ điêu đứng mà riêng ta giàu sang, thì phải thẹn vì cái sự giàu sang của riêng mình đó ( giàu bất chính). Đây vừa là tuyên ngôn về quan điểm nghĩa – lợi, vừa là  vinh nhục quan.

Nhà nho không ham giàu một cách chung chung mà điều kiện hóa nó. Họ đặc biệt coi trọng phương thức đạt tới mục tiêu và đặt vấn đề nhân cách lên vị trí cao nhất. Nếu như thiên hạ thái bình thịnh trị, nhân tài được coi trọng, xã hội công bằng, ai có năng lực cũng được cơ hội thể hiện, trong điều kiện đó nếu chỉ riêng ta nghèo hèn thì vấn đề nghèo hèn đó là do năng lực của ta, người quân tử phải biết thẹn vì bất tài vô dụng. Và ngược lại, nếu thiên hạ loạn lạc cả, thiên hạ lầm than mà riêng ta lại giàu lên, tức sự giàu đó chỉ có thể là giàu vô đạo, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của kẻ khác mà giàu. Cái giàu đó là một loại giàu vô đạo đức. Với chủ trương xây dựng nhân  cách cao đẹp, nhà nho không làm giàu theo cách đáng hổ thẹn.

Khổng tử lại nói:

“ Phú dữ quý thị nhân chi sở dục dã, bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất xử. Bần dữ tiện thị nhân chi sở ố, bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất khứ…” ( Luận ngữ)

( Khổng tử nói rằng: Giàu và sang là điều mà con người ai cũng ham muốn, nhưng không phải bằng con đường hợp đạo lý mà đạt được thì nhất định không nhận. Nghèo và hèn là điều con người ai cũng ghét, nhưng không phải bằng con đường hợp đạo mà bỏ được nghèo hèn thì cũng nhất định không bỏ nghèo hèn…)

Khổng tử thừa nhận việc hướng tới giàu sang là điều mà con người luôn muốn, nhà nho cũng không ngoài số đó, vấn đề chỉ là con đường để đạt tới giàu sang và cách thức bỏ được nghèo hèn. Nhận cái giàu sang hợp lẽ có cái vui sướng của việc khẳng định mình, thể hiện tài năng, hữu ích cho đời. Ở đây có cả vấn đề giữ cái nghèo, không bỏ nghèo để hộ đạo, giữ nghèo đồng nghĩa với giữ nhân cách. Đó là triết lý thủ bần của nhà Nho. Nhà Nho vừa hứớng tới phú quý trong điều kiện nhất định, đó cũng là đạo ắt phải thế. Nhà Nho giữ cho bằng được cái nghèo, cũng là lẽ đạo nó ắt phải thế.  Nếu đạt tới giàu sang  mà vẫn giữ được nhân cách thì đương nhiên là tốt rồi, nhưng nếu vì giàu bất chính, tổn hại nhân cách thì nhà nho nhất định giữ cái nghèo. Nếu chỉ nhìn vào hình thức thì người ta thấy họ gàn dở, bám nghèo, không cầu tiến, nhưng xét về bản chất thì triết lý thủ bần của họ chỉ là một thái độ với đạo và sự kiên định trong giữ gìn nhân cách, hoàn toàn không phải là quan điểm kinh tế hay quan điểm phát triển. Suy cho cùng nó cũng là một loại minh triết để ứng xử, nhận và bỏ, tiến và thoái, xuất và xử, hành và tàng. Trong mọi trường hợp Đạo đều được đưa ra làm tiêu chuẩn để phán xét xem nên hay không nên.

Hậu nhân cứ theo mẫu của cụ Khổng mà hành động thì chắc là không sai, nhưng mà cụ còn để lại một bài toán đố cho hậu nho, những người mải miết hành đạo theo cụ suốt nhiều thiên niên kỷ thời xa xưa, đó là làm sao để nhận diện cho chính xác, cho đúng được lúc nào đời thực là hữu đạo và lúc nào đời vô đạo để mà sướng hay khổ với cái giàu, cao ngạo hay phẫn chí vì nghèo? Cái hữu cái vô ẩn ẩn hiện hiện. Nhiều nhà nho xưa đã từng dằn vặt vì điều xuất xử, không biết xuất thế có đáng xuất, xử thế có đáng xử hay không. Thông tuệ như cụ Nguyễn Trãi còn buông tiếng thở dài cùng câu hỏi lớn: “ Sông Thương Lang biết là nơi đâu?”, biết chỗ nào buông dải mũ và chốn nào rửa chân?  Không có cái gì tuyệt đối và rạch ròi, nhưng cũng không có chỗ cho sự cẩu thả, bao biện hay buông xuôi.

Chuyện cũ nhà nho.

12 people like this post.